chòi ngắm sóng

Category: Tìm hiểu về tập tính động vật

Bãi rác lớn trên biển Thái Bình Dương

1. Bãi rác này bao gồm những gì ?

Great Pacific Garbage Patch

Ảnh 1-a: Một bức ảnh chụp khu vực rác thải trên biển Thái Bình Dương
Nguồn ảnh: Houston Zoo Wildlife Conservation

Rác thải ở đây phần lớn là các phế phẩm nhựa. Trong khi hơn 50 năm trước, hầu hết các vật trôi nổi trên biển và chìm trong các đại dương đều có khả năng tự hủy, thì hiện nay 90% các vật trôi nổi này là nhựa, và hầu như chúng không hề phân hủy. Năm 2006, chương trình bảo vệ môi trường của liên hợp quốc (UNEP) ước tính có trung bình 46.000 vật thể nhựa trôi nổi trên mỗi dặm biển.

Ảnh 1-b: Nhựa trôi nổi trên biển
Nguồn ảnh: http://www.ptmsc.org

Khoảng 20% trong số đó là phế phẩm từ các con tàu và các bến cảng: phao, lưới đánh bắt cá và các vật tương tự. Số còn lại là các loại túi xách, chai nhựa, giày dép, tông, đồ chơi trẻ em, các loại lốp xe, hộp đựng sữa chua, vv – tóm lại, tất cả các sản phẩm được tiêu thụ bởi xã hội hiện đại. Năm 2009, trong khi tìm kiếm các mảnh vỡ của chiếc máy bay Air France 447 biến mất trên biển Atlantic, các nhân viên cứu hộ hết sức kinh ngạc vì các thiết bị thăm dò của họ đã tìm ra một lượng lớn rác thải trên biển, thay vì các mảnh vụn của chiếc máy bay xấu số.

2. Tại sao lại có nhiều nhựa đến thế trên biển và trong các đại dương ?

Ngoài việc những loại rác nhựa này bị thả trực tiếp xuống biển thì chúng còn bị gió cuốn bay từ các đường phố, dần dần được đưa tới các con sông rồi theo đó đổ ra biển. Hầu hết các đồ vật bị bỏ lại trên bờ cát cũng đi theo những con sóng và thủy triều mà trút xuống đại dương. Một khi đã xuống biển, 70% trong số này chìm xuống tầng đáy, phần còn lại trôi nổi trên bề mặt, hoặc lơ lửng trong khoảng 20 mét tính từ mặt nước biển.

Ảnh 2-a: Năm đại hải lưu trên Trái Đất
Nguồn ảnh: wikipedia

Trong đại dương, rác thải bị cuốn theo các dòng đại hải lưu rồi chất thành đống, hình thành nên những khu vực chất đầy nhựa tại tâm điểm của cả năm đại hải lưu trên Trái Đất ( hai ở biển Atlantic, hai ở Thái Bình Dương và một ở Ấn Độ Dương). Thế nhưng bãi tập trung rác thải trên biển Bắc Thái Bình Dương là được biết đến nhiều hơn cả. Nơi đây tập trung hơn 6 triệu tấn rác thải, tạo nên một khu vực mà các nhà hoạt động môi trường đặt tên là “Great Pacific Garbage Patch” ( Bãi rác lớn trên biển Thái Bình Dương) – một hồ chứa phế liệu lớn gấp hai lần bang Texas.

Ảnh 2-b: Khung bên trái: Bãi rác phía tây của Pacific Garbage Patch có kích thước nhỏ hơn, xoay ngược chiều kim đồng hồ và hướng về phía Nhật Bản.
Khung bên phải: Bãi rác phía đông chứa đựng khoảng 5,1 kg nhựa trong mỗi kilometre vuông, lớn gấp 6 lần mật độ phù du có trong nước biển.
Nguồn ảnh: Agauta Marine Research Foundation, Greenpeace


3. Từ bao giờ mà vấn đề này đã trở thành một tiêu điểm ?

Ảnh 3: Rác nhựa tấp vào một bến cảng
Nguồn ảnh: http://www.ptmsc.org

Các nhà khoa học đã ái ngại về vấn đề rác thải trôi nổi trên biển từ những năm 80, thế nhưng phải đến năm 1997 thì mức độ nghiêm trọng của vấn đề này mới thu hút được sự quan tâm. Charles Moore – một người thủy thủ đến từ California và các bạn của anh, trên đường trở về từ một cuộc đua thuyền ở Hawaii, đã bơi thuyền qua đại hải lưu phía bắc của Thái Bình Dương – nơi các con tàu khác thường tránh vì thiếu sức gió. Trên cuộc hành trình, Moore đã trông thấy những hàng dài không dứt phế phẩm nhựa: nắp chai, bàn chải đánh răng, cốc nhựa dùng một lần, bình nhựa, và rất nhiều túi nylon trôi qua. “Chúng tôi đã mất tới một tuần để có thể vượt qua được vùng rác thải, và luôn luôn có vài vật nhựa nào đó “nhảy” bì bõm lên tàu.” – anh nói.

4. Tại sao những núi nhựa khổng lồ này lại không được chú ý đến từ trước đây ?

Vì nhựa là chất liệu không thể nhìn thấy được trong các ảnh gửi về từ vệ tinh hoặc các máy chụp hình trên không khác, chúng ta rất khó có thể nhìn thấy các bãi nhựa này trừ khi tới và ở “trong” chúng. Khái niệm về sự tồn tại nào đó của những đống phế liệu tồn đọng giữa đại dương lại càng trở nên mơ hồ vì thế.

Ảnh 4: Hạt nurdle và các loại mẩu nhựa khác trôi dạt trên bờ biển
Nguồn ảnh: onemoregeneration.org

Mặc dù vậy, những mảnh nhựa lớn mới chỉ là khúc dạo đầu của vấn đề. Những mảnh nhựa này lại tiếp tục chìm trong một hỗn hợp các mảnh nhựa nhỏ hơn do bị cọ xát và phơi nắng, hoặc các mẩu nhựa dẻo có đường kính không lớn hơn 2mm – thường được gọi là ‘nurdle’: sản phẩm bị phân nhỏ ra từ những đồ nhựa dùng một lần. Hàng tỉ tấn nhựa li ti như vậy đang được luân chuyển vòng quanh thế giới mỗi năm, rất nhiều trong số đó còn tiếp tục dâng lên, bị cuốn trôi và chất đầy vào mọi ngóc ngách cũng như các hệ thống cống rãnh ven biển. Những người dọn dẹp bãi biển thường gọi chúng là nước mắt của nàng tiên cá.

5. Chúng gây nên những thiệt hại gì ?

Các nhà sinh học mới chỉ bước đầu nghiên cứu về tác hại của các hạt nhựa này cũng như các phế phẩm nhựa khác trên biển. Các loài cá, chim và cá nhà táng thường tưởng nhầm các hạt nhựa là cá nhỏ hoặc động vật phù du. Chúng thường xơi ngon lành các hạt này để rồi không thể tiêu hóa được. Một thực tế đáng lo ngại hơn cả là các phế phẩm nhựa này còn có khả năng hút dẫn các kim loại nặng và độc tố bị thải vào trong biển, như DDT và PCBs – những chất hóa học công nghiệp đáng lẽ ra phải bị loại trừ khỏi lưới thức ăn.

Ảnh 5: Các mẩu nhựa tìm thấy trong một chú cá Rainbow Runner 5 tuần tuổi
Nguồn ảnh: Algalita Marine Research Foundation

Một khi đã bị tiêu hóa bởi các động vật nhỏ, dần dần nồng độ của những độc tố này lại càng trở nên cao hơn khi được luân chuyển trong chuỗi thức ăn. Các động vật lớn hơn ăn thịt các động vật nhỏ, và rồi tới lượt con người cũng sử dụng thịt cá biển làm thức ăn. Moore, với kinh nghiệm 13 năm nghiên cứu về vấn đề này cho biết: “ Chúng ta có thể mua các sản phẩm bio từ các trang trại chăm nuôi, nhưng không một nhà buôn cá nào trên thế giới có thể bán cho bạn một con cá đánh bắt từ biển với chứng nhận 100% thành phần hữu cơ. Đây là những gì mà chúng ta đang tiếp nhận từ chính hoạt động sản xuất công nghiệp của mình.”

6. Những mẩu nhựa bé nhỏ này có gây ra thiệt hại nhiều hơn các mảnh phế liệu lớn hơn hay không ?

Câu trả lời là không có thứ nào trong hai thứ kể trên là vô hại cả.
Theo UNEP, phế liệu nhựa đã trực tiếp gây ra cái chết của hơn một triệu cá thể chim biển trên thế giới mỗi năm, 100.000 động vật có vú sống ở biển và dĩ nhiên là cả các cá thể rùa nữa. Như chúng ta có thể suy luận được, thì các loài vật này chết vì bị bóp nghẹt trong các lưới nhựa, đường tiêu hóa của chúng bị chọc thủng bởi các mẩu nhựa mà chúng ăn phải.

Ảnh 6-a: Xác một cá thể hải âu, với dạ dày chứa đầy các phế phẩm nhựa
Nguồn ảnh: scientificamerican.com

Số lượng các cá thể hải âu lớn Albatross ở phía bắc Hawaii – thánh địa lớn của loài này, đã bị ‘thảm sát’ bởi nhựa. Người ta trông thấy xác những con chim biển này với dạ dày chứa đầy bàn chảy đánh răng và các loại vật dụng bằng nhựa khác: bút viết, bật lửa, ống hút, vv.

Ảnh 6-b: Loài hải âu Fulmars sống tại khu vực biển Atlantic ăn nhầm phải các mẩu nhựa ngày càng nhiều hơn. - Ảnh: Mark Mallory/CWS

Loài hải âu Fulmar petrel cũng đang gánh lấy số phận tương tự. Xác của chúng bắt đầu xuất hiện trên bờ biển Bắc với trung bình 45 mảnh nhựa trong dạ dày.

7. Chúng ta có thể thu gom phế thải nhựa trên biển lại không ?

Ảnh 7: Một cá thể rùa tưởng nhầm túi nylon là thức ăn
Nguồn ảnh: http://www.ptmsc.org

Moore cho rằng đã quá muộn. Phải tiêu tốn một khoản kinh phí khổng lồ để thu dọn được hết 6 triệu tấn nhựa trong riêng vùng Bắc Thái Bình Dương – và tổng cộng khoảng 100 triệu tấn như thế trên khắp các đại dương của Trái Đất. Không chỉ vậy, những chiếc lưới được làm ra để thu vớt các mẩu nhựa phải có mắt lưới rất nhỏ, và như thế đồng nghĩa với việc giết chết hàng triệu các cá thể động vật khác, tàn phá cân bằng sinh thái biển. “ Nỗ lực làm sạch Thái Bình Dương có thể làm khánh kiệt nền kinh tế của bất kì quốc gia nào, cũng như giết chết hệ sinh thái ở nơi mà những chiếc lưới đi qua.” – Moore nói.

Thử thách của chúng ta bây giờ là thay đổi cách nhìn nhận về việc sử dụng các sản phẩm nhựa, không cho các sản phẩm này được ‘lấn’ thêm ra biển nữa. Rất nhiều những đặc tính của nhựa khiến cho chúng thật khó để tái chế. Bởi vậy mà hãy ngưng hoặc hạn chế đến mức tối đa việc sử dụng các sản phẩm nhựa. Chúng ta biết rằng chúng ta hoàn toàn có thể làm được việc này.

Hiểu biết thêm:

• Năm 1909, Leo Baekeland – nhà hóa học người Bỉ đã phát triển nên dạng polime tổng hợp đầu tiên: Bakelite. Vào thời điểm ấy, ông không hề lường trước được những vấn đề nan giải mà nó gây ra cho môi trường sau này.

Baekeland và phòng thí nghiệm của ông
Nguồn ảnh: wix.com

• Tiếp theo những phát minh của Baekeland, giới khoa học và các nhà làm ăn đã bắt tay để tạo ra những chuỗi hydrocacbon và thật nhiều chất liệu mới, phục vụ cho nền kinh tế đang ngày một phát triển.

• Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đánh dấu sự ra đời của sản phảm giả da đầu tiên (từ PVC) và cao su, sau đó là sự ra đời của nylon vào năm 1935, rồi sau Thế chiến lần thứ hai là acrylics, sợi carbon và nhựa tổng hợp polyurethane ( dùng trong công nghiệp sản xuất sơn).Kể từ đó, các loại túi nylon, túi nhựa, phim âm bản và các vật dụng bằng nhựa khác đã thâm nhập vào mọi ngành công nghiệp, nhất là ngành công nghiệp thực phẩm. Chúng có thể giúp kéo dài thời gian lưu trữ thực phẩm trên các kệ hàng trước khi được bán ở các siêu thị.

• Các đặc tính khiến cho nhựa trở thành một chất liệu lý tưởng trong các phân đoạn sản xuất công nghiệp là: khối lượng nhỏ, nhẹ; giá thành rẻ và hiệu suất cao (sản xuất nhựa chỉ lấy ra 4% từ lượng dầu khai thác được mỗi năm) lại cũng chính là các đặc tính khiến cho chúng thật khó để tái chế. Thậm chí khi nói việc tái chế rác nhựa mang ý nghĩa kinh tế hoặc bảo vệ môi trường, thì trên thực tế, do các nhà sản xuất đã kết hợp vô số loại nhựa khác nhau vào chung trong một sản phẩm khiến cho sự tái chế trở nên bất khả thi. Thêm vào đó, sự nung nóng nhựa để tái chế còn sinh ra khí CO2 (carbon dioxide).

***

Dịch từ báo The Week (số ra ngày 8 tháng Năm 2010)

Ếch, rắn ngủ đông

 

Một số loài ếch và rắn cũng có tập tính ngủ đông. Sự ngủ đông của chúng cũng rất thú vị, hơi khác so với các loài động vật có vú như gấu, chồn, dơi..vv..

Ở rắn, khi ngủ đông, chúng chỉ cần thở 1 nhịp duy nhất trong mỗi khoảng thời gian 2 tiếng đồng hồ.
Ở ếch, chúng hầu như không thở một nhịp nào nhờ khả năng hô hấp qua da, bỏ qua sự hô hấp bằng phổi.
Ta biết rằng khi nhiệt độ xuống thấp thì nước trong các mô, tế bào bắt đầu có xu hướng đóng băng lại thành các tinh thể và làm tổn thương, phá vỡ cấu trúc tế bào. Tuy nhiên, nhờ sự dự trữ nhiều glucose như một yếu tố chống đóng kết trong cơ thể, nhiều loài ếch “đóng băng” gần như hoàn toàn trong kì ngủ đông mà không gặp trở ngại gì. Chúng sẽ giã đông khi mùa xuân tới và quay trở lại hoạt động bình thường như chưa có gì xảy ra.

Các loài ếch thường trú đông dưới đầm lầy, hoặc dưới tầng lá rụng trong rừng.

Làm gì khi mèo mẹ không ăn nhau thai cho mèo con mới sinh ?

Thì bạn sẽ là người cắt nhau thai cho bọn mèo con.  :D

Có một số giống mèo bị mất tập tính cắn đứt dây rốn và ăn nhau thai cho mèo con mới sinh (điển hình là mèo Ba Tư , mèo Nga và các giống mèo “cảnh”). Khi ấy, nếu không thể liên lạc với bác sĩ, bạn hãy giữ bình tĩnh và làm theo các bước sau:

1. Để tránh sự xuất huyết khi cắt bỏ nhau thai, dùng một đoạn dây, buộc dây rốn của mèo con lại, cách bụng chừng 2 cm.
2. Cắt bỏ phần nhau thai phía ngoài nút thắt.

Mèo con sau đó chưa bú sữa mẹ ngay, bạn đừng lo, vì trước đó chúng vẫn dùng chất dinh dưỡng có trong nhau thai mà đợi mãi mèo mẹ không cắt đi cho.

Những bà goá phụ đen

Có bao giờ bạn tự hỏi, con nhện to đùng mà bạn nhìn thấy, là nhện đực hay nhện cái không ?
Thường thì nhện cái có kích thước lớn hơn nhện đực cùng loài. Nguyên nhân do: các anh nhện đực sau khi gặp nhện cái và làm nhiệm vụ duy trì nòi giống xong thì sẽ bị ăn thịt bởi chính bạn tình. Nhện cái ăn thịt nhện đực để lấy sức đẻ trứng. Vì tập tính này mà các nhà khoa học còn gọi nhện cái là bà goá phụ đen
Không dừng ở đó, sau khi đẻ trứng và mang trứng trên mình (trong khoảng thời gian vài tuần hay vài tháng tuỳ theo loài), nhện mẹ còn ăn thịt cả những con non nếu chúng không nhanh chân chạy thoát.

Tại sao mèo hay gặm, cắn nhẹ tay chủ khi nó được vuốt ve?

Nhiều người đang vuốt ve mèo thì thấy nó cắn vào tay mình, nghĩ rằng mèo hư. Nhưng không phải thế, đấy là cách để mèo lưu giữ mùi hương của nó trên tay người nó yêu thương. Thế nên đừng phũ phàng và đuổi nó đi chỗ khác nhé !

Tại sao mèo ăn cỏ ?

 

Bạn quan sát thấy lưỡi mèo rất thô ráp. Khi liếm láp, chúng vô tình nuốt luôn những sợi lông vào bụng. Manh tràng mèo không phát triển nên không tiêu hóa được xơ thực vật cho tốt. Ăn cỏ chính là một tập tính của loài mèo nhằm nôn ra phần lông đã nuốt phải. Bạn có thể thấy rất nhiều lông trong dịch nôn ra của chúng.

Bài học : Đừng lo lắng khi thấy mèo ăn cỏ, ngược lại, hãy chuẩn bị cho chúng một chậu cỏ dại trong nhà.

Trên Trái Đất, loài sinh vật nào di chuyển với vận tốc nhanh nhất ?

Bạn có thể đoán, hmmm, báo Cheetah chăng ?

Nhưng không phải. Loài sinh vật này có thể đạt vận tốc tối đa 320 km/h khi săn mồi, bỏ xa báo Cheetah đằng sau, đang hì hụi bở hơi tai với vận tốc 120 km/h.

Đó là loài chim ưng Peregrine (Falco peregrinus). Một thời gian trước, chúng nằm ở thứ hạng đầu trong danh sách những loài có nguy cơ tuyệt chủng do nạn sử dụng thuốc trừ sâu DDT. Tuy nhiên, sau lệnh cấm sử dụng DDT ( loại chất hóa học này còn gây nhiều đột biến ), loài chim ưng Peregrine đã bắt đầu phát triển trở lại, hiện nay chúng có mặt ở tất cả các châu lục, trừ châu nam cực. Dễ hiểu tại sao tên gọi của chúng có nghĩa là chim ưng du mục.

Bạn có thể xem video về chúng:

Chung sống hoà thuận với bồ câu:

Con non:

 

Vì sao loài báo Cheetah có thể đạt vận tốc tối đa 120 km/h nhưng lại không thể duy trì được vận tốc đó quá 4 giây ?

Vấn đề nằm ở giải phẫu học.
Loài báo nói chung, có quả tim rất nhỏ. Nhờ những tiết chế tối đa về khối lượng cơ thể, sao cho có một thân hình nhẹ nhàng phù hợp với khung xương linh hoạt, quá trình chọn lọc tự nhiên đã giữ lại những cá thể báo có khối lượng lý tưởng cho việc rượt đuổi con mồi. Tuy nhiên, ưu điểm này cũng chính là một nhược điểm. Quả tim quá nhỏ khiến việc bơm máu đi và vận chuyển máu, cung cấp đủ dưỡng chất, dưỡng khí cho hoạt động rượt đuổi vốn tiêu tốn nhiều năng lượng của loài báo gặp khó khăn.
Khi rượt đuổi con mồi, loài báo luôn phải dồn sức vào một khoảng thời gian ngắn. Sau khoảng thời gian đó, nếu chưa bắt được con mồi, nó sẽ đành phải từ bỏ và quay về nghỉ ngơi lấy sức.

Bài học cho các bạn sơn dương :

  • Để thoát chết, hãy cố hết sức chạy nhanh và chạy bền, lắt léo chạy hình chữ Z càng tốt.
  • Còn nếu không may mắn thoát chết, hãy nghĩ khác.

Vì sao chó, mèo mới gặp nhau thì dễ xung đột ?

Do chưa học được ngôn ngữ của nhau nên bước đầu làm quen hay căng thẳng.

Với loài mèo, để thể hiện lòng thương mến, nó sẽ grừ grừ nhẹ nhàng ở cổ họng. Thế nhưng với loài chó thì gầm gừ là tiếng gọi khiêu chiến.

Với loài chó, quẫy đuôi là thể hiện lòng vui vẻ hồ hởi, thì ngược lại, với loài mèo, quẫy đuôi hàm ý một cuộc đại chiến bắt đầu.

Sau một hay nhiều cuộc làm quen nảy lửa, chó và mèo sẽ thân nhau hơn trước, nhưng cũng có trường hợp việc làm quen gặp thất bại liên tiếp.

Với chó mèo được nuôi cùng nhau từ nhỏ, việc học ngôn ngữ của nhau luôn nhanh hơn và chúng lớn lên trong hòa thuận.

Bài học cho chúng ta :

  • Gặp mèo thì chớ có vẫy tay thân thiện =)) Khi gặp mèo, hãy chìa tay ra thật từ từ nhẹ nhàng, để nó quan sát, hít ngửi bàn tay, rồi mới được vuốt ve nó nếu nó không bỏ đi. Nếu nó bỏ đi, đừng làm phiền nó.
  • Gặp chó, không thể áp dụng khâu vẫy tay thay cho vẫy đuôi để làm quen với nó. Hãy dè chừng. :))

Tìm hiểu về sự chuyển đổi giới tính ở cá

Lớp Cá là lớp động vật thuộc Ngành động vật có xương sống, số lượng các loài cá rất phong phú và tập tính của mỗi loài cũng có khác nhau ít nhiều. Một trong số đó là khả năng chuyển đổi giới tính của một số họ cá, điển hình là cá kiếm và một số loài cá mập.

Các nhà khoa học đã rất sửng sốt khi một bể nuôi toàn cá mập đực lại xuất hiện một con cái mang thai. Điều này bắt đầu được nghiên cứu ngay sau đó về khả năng tự thay đổi giới tính để duy trì sự tồn tại của quần thể cá mập.

Trong bài này, mình đề cập đến loài cá kiếm (Xiphophorus hellerii), thuộc chi Poeciliidae, cũng có khả năng chuyển đổi giới tính để đạt tới tỉ lệ đực-cái cân bằng trong quần thể. Bản thân đã từng nuôi một bể cá có rất nhiều cá kiếm cái, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, xuất hiện một cá thể cá cái mọc đuôi dài và mang các hình thái như cá kiếm đực. Sau đó 5 đến 6 tuần thì các cá thể cá cái sinh cá con ( cá kiếm là loài cá mang trứng và cá con phát triển ra khỏi trứng từ trong bụng mẹ). Điều này chứng tỏ cá thể cá chuyển đổi hình thái kia đã chuyển đổi cả giới tính và mang các chức năng sinh lí đặc trưng của giới đực.

Cá là một trong những loài có tốc độ tiến hoá cao nhất trên trái đất, các biến đổi không ngừng của môi trường sống, các thay đổi hoá học trong nước là các điều kiện ngoại cảnh tác động lên sự tiến hoá của chúng. Mặt khác, vòng đời ngắn và khả năng sinh sản với số lượng lớn khiến đẩy nhanh quá trình chọn lọc các cá thể có khả năng thích nghi với môi trường.

Sự xuất hiện từ lâu đời của các loài cá ( khoảng 50 triệu năm trước ) cùng với tốc độ tiến hoá đáng kinh ngạc này đã đưa đến kết quả là số lượng các loài cá trên hành tinh chúng ta vượt qua tất cả các loài có xương sống khác. Có khoảng 31000 loài cá được phát hiện cho tới thời điểm này, song chúng ta vẫn chưa hề khám phá đầy đủ hết tất cả mọi loài cá dưới đáy biển sâu, nơi con người gặp phải khó khăn về áp suất và tầng ánh sáng không tới được.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: