Người Inuit

by Zen Vegan

1.

Những người Eskimo tự gọi mình là những inuk.

Trong tiếng Eskimo, inuk có nghĩa là « con người » – con người xuất sắc, con người có khả năng thích nghi và sinh tồn trong môi trường băng giá, một trong những môi trường khắc nghiệt nhất trên trái đất. Họ dùng inuk để chỉ một người, inuuk để chỉ hai người, và inuit để chỉ nhiều người. Eskimo trong tiếng Indien có nghĩa là « Người ăn thịt sống ». Bản thân những người Inuit không muốn dùng tên gọi này, họ thích dùng Inuk, Inuuk và Inuit trong ngôn ngữ của họ hơn.

Tôn trọng họ, từ đây tôi gọi những người Eskimo là những người Inuit.

Giống như người Indien ở Châu Mỹ, người Inuit có nguồn gốc từ Châu Á, thế nên hai tộc người này có nhiều nét tương đồng ở vóc dáng và màu da. Những người Inuit sống ở cực Bắc Châu Á ( vùng Siberia ) từ ít nhất 50.000 năm trước, di chuyển đến sống ở vùng cực Bắc của Châu Mỹ ( Canada, Alaska ) và đảo Greenland từ khoảng 10.000 năm trước.

Với dân số 100.000 người như hiện nay, họ đã sống một quá khứ biệt lập hoàn toàn với phần còn lại của thế giới. Cho tới giữa thế kỉ 20, lối sống của rất nhiều người trong số họ vẫn chưa hề thay đổi so với 8000 năm trước.

Sinh sống trên một miền rộng lớn, hoang vu trống trải, không cây cối, nơi mà mùa đông kéo dài 10 tháng trong một năm, với nhiệt độ trung bình -50 độ C, người Inuit chỉ có thể sống nhờ săn bắt. Họ săn bắt hải cẩu và gấu trắng để lấy thức ăn, lấy dầu mỡ để sưởi ấm và thắp sáng, lấy da để làm quần áo và lấy xương để chế tác công cụ, dao, lao móc để đi săn. Không lâu trước đây, họ vẫn phải cuốc bộ đi săn, vì chó kéo xe rất hiếm và đắt đỏ, họ phải đi bộ hàng chục cây số trước khi có thể tìm ra một cái hốc nhỏ trên mặt băng – nơi những con hải cẩu ngoi lên hít thở.

Ngày nay, cuộc sống của những người Inuit cũng không tránh khỏi những thay đổi bởi sự tiến bộ chung của thế giới. Họ di chuyển thường xuyên bằng xe trượt tuyết với 8-10 chú chó kéo xe và đi săn bắt bằng súng ống. Mảnh đất của họ, trước đây bị coi là vô giá trị và khắc nghiệt khó có thể chịu đựng được, thì giờ đây lại trở nên thu hút bởi nguồn khoáng sản, khí gaz và dầu mỏ.

Ngoài ra, những người Inuit có thể đi học, có thể ăn những thức ăn khác gấu trắng và hải cẩu, di chuyển bằng xe jeep tân tiến và đổi lều tuyết, hầm ghép bằng đá lộn xộn của mình thành những ngôi nhà hiện đại và tiện nghi hơn. Thế nhưng sự giao lưu với những nền văn minh ở phía nam cũng mang trong nó mối nguy hiểm tiềm tàng, bởi vì nếu chúng ta không quan tâm đến, văn hóa Inuit sẽ biến mất cùng với trạng thái cân bằng tự nhiên vùng cực vốn mong manh lại đang bị đe dọa bởi sự biến đổi khí hậu toàn cầu.

2.

Người Inuit có thân hình khỏe mạnh, “cơ bắp hơn là thừa cân”, có hàm răng chắc và họ sống thích nghi một cách đáng kinh ngạc với môi trường vùng cực. Đầu thế kỉ 20, nhà thám hiểm cực Bắc Vilhjalmur Stefansson cùng đoàn nghiên cứu của ông đã quyết định sống cùng và tìm hiểu về người Inuit trong nhiều năm. Chế độ ăn chỉ toàn thịt của họ có thể giết chết những người Châu Âu chỉ trong một năm bởi hàm lượng mỡ, đạm quá cao, thì đối với những người Inuit, điều đó không phải là vấn đề.
Mặc dù tuổi thọ tối đa của những người Inuit không cao ( chỉ 25% dân số đạt tuổi 60), và tuổi thọ trung bình thuộc mức cực thấp so với mặt bằng chung vùng Bắc Mĩ, (do chế độ ăn không rau và ngũ cốc ảnh hưởng đến sự oxy hóa và các bệnh ung thư ) thì một điều gây bất ngờ hơn cả là họ không hề chú ý gì đến số năm mà họ đã trải qua, và họ không đoán được họ bao nhiêu tuổi. ( trích lược từ cuốn Observations on the Western Eskimo and the Country they Inhabit của Dr. John Simpson )
Những người Inuit còn đặc biệt ở xã hội của họ. Phụ nữ luôn có tiếng nói ngang hàng với nam giới, ngay cả ở trong gia đình và trong cộng đồng. Phụ nữ là người bạn đồng hành của nam giới trong mọi lĩnh vực, trừ công việc đi săn. Trẻ em luôn chịu ảnh hưởng lớn từ cha mẹ, thế nhưng không bao giờ thấy chúng có biểu hiện của sự cáu kỉnh hay giận dỗi – điều thường thấy ở trẻ em các nền văn minh khác. Dù cho trẻ em Inuit được nuông chiều tới cỡ nào đi nữa, chúng vẫn tỏ ra ngoan ngoãn vâng lời. Đánh đòn, quở trách mắng mỏ hay mọi hình thức trừng phạt trẻ em đều không tồn tại. ( trích từ Cancer, Disease of Civilization của Dr. John Murdoch )

Tuy nhiên, đó là chuyện của quá khứ. Những người Inuit hiện đại lại bắt đầu có những biểu hiện của sự sụt giảm thể chất ở mức độ cao. Khẩu phần ăn thay đổi đã khiến họ nhiễm nhiều căn bệnh: thừa cân, bệnh tiểu đường do rối loạn đường bột, các bệnh viêm răng tủy…

3.

Những thông tin trên phần nào đưa ra cho bạn cái nhìn sơ lược về những người Inuit. Về đời sống tinh thần của họ thì sao ? Tôi muốn nhắc đến sự lạc quan của những người Inuit hơn cả.
Người Inuit không quan tâm đến thời gian. Phần đông các em bé chết ở độ tuổi từ 4 đến 10. Quá trẻ phải không ?

Có một câu hát Inuit như thế này : “Mon coeur est en joie lorsque le jour se lève doucement sur le toit du ciel.” (Trái tim tôi reo vui khi ngày tới nhẹ nhàng nơi chân trời.)

Tôi muốn nhắc đến cảm giác ấy.
Mỗi ngày sống đối với họ là niềm vui. Họ chỉ có thể sống trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, bởi lẽ những yếu tố di truyền qua ngàn thế hệ đã khiến tuổi thọ của họ chỉ được có thế. Họ săn bắt cá, thú để sinh tồn chứ không phải để buôn bán vì lợi nhuận. Lí do hết sức tự nhiên. Họ không muốn bị gọi là những người Eskimo vì họ không muốn bị coi là những kẻ ăn thịt sống. Họ là những “Inuk”. Những con người thực sự.

Họ đã trở thành những tiếng hát và gió thổi dạt dào. Mỗi khi tôi sắp ngã lòng, tôi nghĩ về họ, những người bạn Inuit lại khiến tâm hồn tôi nhẹ nhàng reo vui, như ngày mới lại lên nơi cuối trời.

Ở một nơi nào đó, họ đang ôm ấp và bảo vệ tôi trong tâm hồn bao la không gợn chút sầu não của họ. Không cần biết bao nhiêu năm đã trôi qua, cũng không cần biết còn sống được bao nhiêu năm nữa.

Kosketa minua – Touch me
Älä käsilläsi – Not with your hands
Vaan niin että tunnen sinut – But so that I feel you
Halaa minua – Hug me
Älä käsilläsi – Not with your hands
Mutta sielussasi – But within your soul.

Savane